Điểm tin:
 
Báo cáo Tổng hợp ý kiến thảo luận, quán triệt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết 05
Báo cáo Tổng hợp ý kiến thảo luận, quán triệt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết 05

I. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC THẢO LUẬN

Nhà trường đã ban hành Kế hoạch số 145/KH-CĐCĐ ngày 25 tháng 3 năm 2010 về việc tổ chức triển khai thảo luận quán triệt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết 05 của Ban Cán sự Đảng bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010- 2012.

Theo kế hoạch này, nhà trường đã tổ chức triển khai đợt thảo luận từ ngày 18/3 đến ngày 04/4/2010; Phó Hiệu trưởng Dương Kim Dung theo dõi chỉ đạo tất cả các buổi thảo luận.

Đợt triển khai thảo luận đã thu hút được đông đảo cán bộ, giáo viên, công nhân viên chức, học sinh sinh viên tham gia đóng góp ý kiến và đã ghi nhận hơn 100 lượt ý kiến.

II. KẾT QUẢ THẢO LUẬN

1. Đào tạo không đạt chất lượng, không đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu của các ngành kinh tế, quản lý nhà nước… là lãng phí nguồn lực của xã hội và của chính người học.

Các đơn vị, học sinh sinh viên thống nhất cao với việc đào tạo không đạt chất lượng là lãng phí, kém hiệu quả đối với các đơn vị sử dụng lao động; gây lãng phí, kém hiệu quả đối với người học; đào tạo không đạt chất lượng là lãng phí, kém hiệu quả đối với nhà trường; đào tạo không đạt chất lượng cũng đồng nghĩa với việc mất dần sinh viên, mất tín nhiệm và sự ủng hộ của nhân dân, các cơ quan đơn vị nơi Trường đóng;

Để nâng cao và đảm bảo chất lượng thì ngay từ khâu đầu vào và đầu ra, Trường chúng ta phải thật sự nghiêm túc; xây dựng quy trình đào tạo chặt chẽ, khoa học, thực hiện nghiêm túc chuẩn đầu ra.

Tiêu cực trong đào tạo (trong thi cử, làm luận văn tốt nghiệp, không khách quan trong đánh giá kết quả học tập,…) là tự huỷ hoại tương lai của sinh viên, vì vậy phải nói không với tiêu cực trong đào tạo.

Đa số các ý kiến đều đồng tình với nhận định của Bộ, xem đây là sự vi phạm nghiêm trọng Nội quy, Quy chế nhà trường; sự thiếu khách quan trong đánh giá kết quả học tập cũng đồng nghĩa với kết quả học tập của các em sẽ không phản ánh đúng, không đánh giá được năng lực học tập của từng cá nhân, điều này sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ khi các em ra trường và về làm việc tại các đơn vị; khẳng định công bằng, khách quan trong đánh giá, cho điểm sẽ càng nâng cao uy tín của nhà giáo và chỉ có năng lực thực sự mới đáp ứng được yêu cầu công việc sau này. Năng lực này chỉ có được từ việc học tập nghiêm túc.

2. Về thực trạng các yếu tố tạo nên chất lượng đào tạo

2.1. Chuẩn đầu ra

Các ý kiến trao đổi thống nhất nhận định: do nhà trường mới thành lập và đi vào hoạt động nên những năm đầu nhà trường tập trung vào xây dựng chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên. Do vậy, nhà trường chưa tiến hành công bố chuẩn đầu ra của các ngành học theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tuy nhiên, với mỗi mã ngành đào tạo, nhà trường đều đã nêu rõ mục tiêu ngành học và các yêu cầu tiêu chuẩn khi sinh viên tốt nghiệp.

Để công tác quản lý đạt hiệu quả, các ý kiến tập trung nhấn mạnh tầm quan trọng của việc công bố chuẩn đầu ra vì điều này sẽ có lợi cho nhà trường và sinh viên trong việc xây dựng thương hiệu và hợp tác liên kết đào tạo.

Do vậy, nhà trường cần gấp rút xây dựng và công bố chuẩn đầu ra; có kế hoạch đánh giá, đảm bảo chất lượng đào tạo đối với người học trước khi ra trường và kế hoạch điều chỉnh hoạt động đào tạo cho phù hợp với yêu cầu xã hội; khảo sát và đánh giá nhu cầu đào tạo của địa phương, từ đó tập trung đào tạo các ngành xã hội cần, đảm bảo sinh viên sau khi ra trường có việc làm theo đúng chuyên ngành được đào tạo.

Nhiều sinh viên băng khoăn về khả năng tìm việc làm tại địa phương và đề nghị nhà trường tăng cường giúp đỡ.

2.2. Chương trình đào tạo

Các ý kiến cho rằng trong thời gian qua nhà trường có nhiều cố gắng trong việc xây dựng chương trình đào tạo. Tuy nhiên, chương trình phải được xây dựng một cách mềm dẽo, linh hoạt; thiết kế theo hướng đảm bảo liên thông với các trình độ đào tạo và mạnh dạn tham khảo chương trình tiên tiến của các nước; tiếp thu các ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng lao động, sinh viên tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển kinh tế xã hội ở địa phương và cả nước.

Chương trình đào tạo cần trang bị thêm cho học sinh, sinh viên những kỹ năng mềm như kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc, tin học, ngoại ngữ; nâng cao hơn nữa thái độ và bản lĩnh chính trị; có thể kết hợp cơ cấu vào chương trình đào tạo các nội dung giúp đảm bảo sự đồng bộ giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ; giảm đại cương, lý thuyết, tăng thực hành và xâm nhập thực tế.

2.3. Tổ chức quy trình đào tạo

Các ý kiến cho rằng việc tổ chức đào tạo của nhà trường hiện nay có lưu ý đến nhu cầu xã hội, cần xây dựng được kế hoạch đào tạo cụ thể, sát hợp với tình hình thực tế; xu hướng sắp tới nhà trường cần đa dạng hóa ngành nghề và các hình thức đào tạo, đáp ứng yêu cầu học tập ngày càng cao của cán bộ, viên chức và đông đảo tầng lớp nhân dân.

Nhà trường cần xây dựng mối quan hệ tốt hơn nữa với các cơ quan, doanh nghiệp, xí nghiệp tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên năm cuối đi thực tập, thực tế.

2.4. Phát triển đội ngũ giảng viên

Nhà trường nên tạo điều kiện để giảng viên có thể đảm nhận thêm một số học phần khác ngoài học phần chính vừa giảm hợp đồng mời giảng vừa giúp giảng viên có điều kiện nâng cao tay nghề. Tuy nhiên, cũng tránh tình trạng quá tải cho giảng viên khi một giảng viên phải đảm nhận quá nhiều học phần có thể làm giảm hiệu quả giảng dạy.

Giảng viên cần quan tâm nhắc nhở học sinh, sinh viên thực hiện các nội quy nhà trường, đặc biệt là ý thức giữ trật tự, vệ sinh.

2.5. Hệ thống giáo trình, sách tham khảo

Cán bộ, giáo viên và học sinh sinh viên cho rằng thời gian qua đã cố gắng trong việc bổ sung tài liệu. Tuy nhiên, hệ thống giáo trình, sách tham khảo cho các ngành đào tạo của Trường hiện nay chưa nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu học tập và nghiên cứu của học sinh, sinh viên và cả cán bộ giáo viên; nguồn tài liệu tham khảo chủ yếu là tự trang bị hoặc tra cứu, sưu tầm từ internet. Trước năm học 2010- 2011, đề nghị các khoa bổ sung thêm giáo trình, bài giảng phục vụ nhu cầu giảng dạy, học tập của cán bộ giáo viên, học sinh, sinh viên; đẩy mạnh hợp tác với các trường để chia sẻ nguồn tài liệu, giáo trình.

2.6. Phòng thí nghiệm, thực hành

Hiện nay, phòng thí nghiệm và thực hành của Trường còn khá nhỏ, chỉ khoảng 40m2, phương tiện phục vụ nghiên cứu chỉ là những thiết bị đơn giản; số máy tính để phục vụ thực hành cho học sinh, sinh viên là không cao, bình quân 03 sinh viên/máy, điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thao tác, thực hành trên máy và nghiên cứu cho các em. Trong thời gian tới, nhà trường nên bổ sung thêm phòng máy vi tính, mở rộng thêm phòng thực hành tin học, củng cố và trang bị cơ sở vật chất cho phòng thí nghiệm, bổ sung thêm các trang thiết bị thực hành chuyên ngành đáp ứng yêu cầu học tập của từng ngành đào tạo.

2.7. Thư viện, Internet

Các ý kiến cho rằng hiện nay, mặc dù nhà trường đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện cơ sở vật chất, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, sinh viên như: trang bị hệ thống mạng wifi phủ kín toàn trường (kể cả Khu A và Khu B), trang bị phòng đọc điện tử (với khoảng 10 máy) nhưng vẫn còn nhiều hạn chế do hệ thống máy tính quá củ, tốc độ chạy chậm, thường xuyên hư hỏng; nguồn sách và tài liệu nghiên cứu còn hạn chế.

Sắp tới, học sinh sinh viên đề nghị nhà trường nên có giải pháp cải tạo, nâng cấp, sửa chữa Thư viện và cả phòng đọc điện tử trong khi chờ đề án sáp nhập; trang bị thêm các loại sách tham khảo chuyên ngành cho học sinh sinh viên.

Trường đã có trang web riêng, nhưng do mới xây dựng nên nội dung chưa phong phú, trong thời gian tới cần thường xuyên cập nhật các tin tức, sự kiện liên quan đến các hoạt động của Trường; nên công bố các thông tin có liên quan đến sinh viên lên web.

2.8. Đánh giá chất lượng đào tạo

          Nhìn chung, công tác đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo hiện nay chưa được thực hiện tốt, bộ phận chuyên trách chưa vạch ra kế hoạch cụ thể để đánh giá hoạt động dạy và học, trong thời gian tới cần xúc tiến công tác đánh giá và kiểm định chất lượng.

2.9. Vai trò nghiên cứu khoa học với chất lượng đào tạo thực tế ở trường hiện nay như thế nào?

Đa số giảng viên của khoa đều đã và đang thực hiện công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho giảng dạy tại Trường. Đây là một hoạt động rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn rất hạn chế do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là cơ sở vật chất chưa được đầu tư đúng mức. Nhà trường nên bổ sung Quy chế quy định việc nghiên cứu khoa học trong Trường sao cho phù hợp với các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; cần tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học.

2.10. Việc thực hiện 03 công khai ở nhà trường: Chất lượng và tác dụng thực tế đến đâu?

Việc thực hiện 03 công khai theo hướng dẫn của Bộ được nhà trường thực hiện tốt và có hiệu quả; qua đó tạo được lòng tin từ cơ quan ban ngành trong tỉnh và của cả người học.

2.11. Quản lý tài chính và chất lượng đào tạo

 Nhà trường đã thực hiện việc quản lý, thu chi tài chính rất nghiêm túc, minh bạch; có thực hiện báo cáo công khai các nguồn thu, chi.

Thực hiện quản lý tập trung tất cả các nguồn tài chính, mỗi khoản thu, chi đều sử dụng chứng từ hợp pháp (kể cả các khoản thu do Trường ủy nhiệm cho các đơn vị thu).

2.12. Tình hình thực hiện Chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2001-2010 và xây dựng Chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2011-2015, định hướng 2020

Các ý kiến thống nhất trong thời gian qua, nhà trường đã thực hiện có hiệu quả kế hoạch phát triển Trường giai đoạn giai đoạn 2006- 2010. Tuy cũng còn vài nội dung chưa đạt do các yếu tố khách quan và chủ trương lớn của tỉnh. Trong thời gian tới, tuy nhà trường đã xây dựng chiến lược phát triển Trường giai đoạn 2010- 2015 trình UBND phê duyệt, nhưng do có chủ trương sáp nhập các Trường Cao đẳng Sư phạm, Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật vào Trường Cao đẳng Cộng đồng nên Chiến lược phát triển Trường có thay đổi; đề nghị các bộ phận chức năng lập kế hoạch nghiên cứu bổ sung trình thẩm định sau khi có quyết định sáp nhập Trường.

2.13.Chế độ trách nhiệm và chính sách đối với giảng viên, công nhân viên, lãnh đạo các phòng, ban, khoa và nhà trường có khuyến khích quan tâm đến chất lượng đào tạo hay không? Cần sửa đổi thế nào? Vì sao?

Trong thời gian qua, Ban Giám hiệu Trường đã tạo mọi điều kiện để giáo viên nâng cao nguồn thu nhập chính đáng. Đa số cán bộ, giáo viên, công nhân viên yên tâm công tác, không ngại khó khăn để hoàn thành định mức và đảm bảo tiến độ của Trường.

Tuy nhiên, với quy định giáo viên không được giảng vượt quá 200 giờ sau khi hoàn thành số tiết theo định mức quy định đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai chương trình đào tạo; việc mời giảng đối với môn thiếu giáo viên gặp khó khăn mà Trường không thể phân công giáo viên giảng dạy do vượt hơn 200 giờ.

3. Để nâng cao chất lượng đào tạo, hiệu quả trong nghiên cứu khoa học, đồng bộ với các đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và UBND tỉnh, thành phố theo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ tại nhà trường; lãnh đạo trường, khoa, Bộ môn, các giảng viên, học sinh, sinh viên thực hiện những nhiệm vụ sau:

Quyết tâm đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng trong cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh viên. Tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động thiết thực qua đó giáo dục ý chí rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, ý chí tự học, phấn đấu vươn lên làm chủ bản thân, phục vụ cộng đồng.

Tiếp tục tăng quy mô và đảm bảo chất lượng đào tạo; thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch đào tạo trên cơ sở dự báo nguồn tuyển sinh và nhu cầu lao động của địa phương, bám sát nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh giai đoạn 2011 - 2015 để xây dựng chương trình đào tạo, chuyển từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ vào năm 2011.

Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý có phẩm chất chính trị, có đạo đức và có đủ trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu quản lý và giảng dạy của nhà trường theo từng giai đoạn, đáp ứng nhanh và đẩy đủ nhu cầu học tập của cộng đồng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Hoàn thành Dự án đầu tư xây dựng Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng giai đoạn 2010-2015; tiếp tục đầu tư nâng cấp các thiết bị hiện đại, ưu tiên xây dựng Trung tâm học liệu, phòng học trực tuyến, nhà xưởng thực hành, thí nghiệm…

Quan tâm đầu tư đúng mức cho nghiên cứu khoa học, nâng cao năng lực nghiên cứu phục vụ cho nhiệm vụ chuyên môn trong giảng viên và học sinh, sinh viên. Trong đó lưu ý đến việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ cho cộng đồng.

Tiếp tục xúc tiến các kế hoạch hợp tác, liên kết với các trường, các tổ chức trong và ngoài nước để triển khai các dự án, kế hoạch hợp tác, tìm kiếm các nguồn lực đầu tư phát triển nhà trường; tiếp nhận trợ giảng Tiếng Anh, Giáo viên tình nguyện  Tiếng Anh từ các tổ chức đối tác.

Kiện toàn tổ chức bộ máy của các đơn vị đảm bảo chất lượng đào tạo (phòng Thanh tra, phòng Đảm bảo chất lượng và các ban trực thuộc) để làm tốt chức năng đảm chất lượng đào tạo.

          4. Kiến nghị

UBND tỉnh và các sở, ban ngành tỉnh trong thời gian qua đã dành nhiều sự quan tâm đối với quá trình hoạt động của nhà trường. Trong thời gian tới, nhà trường mong tiếp tục nhận được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của UBND tỉnh.

Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất: Cần mạnh dạn hơn trong công tác liên kết với nhà trường trong đào tạo nguồn nhân lực; tham gia góp ý xây dựng nội dung, chương trình đào tạo; tăng cường hỗ trợ cán bộ tham gia góp ý xây dựng nội dung, chương trình đào tạo; tăng cường hỗ trợ cán bộ tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực tập, thực hành; mạnh dạn nhận sinh viên về thực tập và đề xuất nhu cầu đào tạo cho nhà trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo:

Ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo theo tiến độ xác định trong Chương trình hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo để các trường làm cơ sở chỉ đạo thực hiện,

Nghiên cứu cho phép các trường vận dụng quy định về việc trả thù lao vượt 200 giờ chuẩn; giao cho Hiệu trưởng thỏa thuận thời gian làm thêm giờ với giáo viên theo hướng vừa đảm bảo tiến độ đào tạo của trường vừa tránh để giáo viên lao động quá sức, nhưng không nên khung cứng trong mức 200 giờ.

Quản lý chương trình đào tạo theo khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo; có văn bản hướng dẫn và cho phép các trường xây dựng chương trình đào tạo theo chuyên ngành cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; ban hành chương trình khung một số ngành mới như Anh Văn, Pháp lý, Thư ký Văn phòng…

Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm ban hành Quy chế Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng thay thế Quy chế tạm thời Trường cao đẳng cộng đồng ban hành kèm theo Quyết định số 37/2000/QĐ-BGD&ĐT  ngày 29 tháng 8 năm 2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trên đây là tổng hợp ý kiến thảo luận, quán triệt Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết 05 của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng.


Các tin khác:
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM
Liên kết - Quảng cáo
TT NCUD KHKT
Thu vien dien tu
Misa
Loading...